Albert Einstein – Đi tìm chân lý

Albert Einstein – Người “mơ mộng”

“Điều quan trọng là người ta không ngừng hỏi” – câu nói này của Albert Einstein được viết trên tấm thảm đỏ lớn tại cửa đi vào phòng hội thảo tại Viện bảo tàng Lịch sử Đức ở Berlin trong năm 2005 – năm được chọn làm “Năm Einstein” và “Năm vật lý” của thế giới. Nó thể hiện triết lý của Einstein đi tìm chân lý không mệt mỏi và cũng là kim chỉ nam suốt đời ông.

Hơn 50 năm sau, thế giới vẫn muốn nghe lại tiếng nói thật nhất, can đảm nhất của ông như một sự nhắc nhở cho nhân loại.

Albert Einstein sinh ngày 14-3-1879 tại thành phố Ulm thuộc bang Baden-Wurttemberg của Đức, và mất ngày 18-4-1955 tại Princeton, Mỹ. Ông là con trai đầu của một gia đình gốc Do Thái đã định cư lâu đời ở vùng này. Gia đình Einstein không phải là ngoan đạo, đã được “hội nhập”, không còn sống với đạo truyền thống Do Thái, có tinh thần phóng khoáng.

Cậu bé chậm phát triển

Người ta kể cậu bé Einstein có một số đặc tính nổi bật không giống với các cậu bé thường, không phải là biểu hiện thiên tài mà ngược lại! Cậu sinh ra đã có cái đầu quá to khiến bố mẹ tưởng là quái thai, rồi lại “chậm phát triển”. Ba tuổi mà chưa nói được, gây lo lắng khiến bố mẹ phải đi tìm bác sĩ tư vấn. Chín tuổi cũng chưa nói năng thông thạo. Nhưng người ta đoán rằng cậu bé Einstein đã suy nghĩ bằng hình ảnh nhiều hơn bằng chữ hay lời nói. Những gì Einstein sau này viết ra đều chứa đầy hình ảnh, như những bức tranh, từ khoa học đến văn phong. Cái đầu ông là một “xưởng vẽ” bằng ý tưởng. Cậu nổi tiếng là người “mơ mộng” và không ai khám phá cậu có những thiên phú gì. “Tôi là một học sinh không đặc biệt giỏi hay tồi. Điểm yếu chính của tôi là tôi có một trí nhớ không tốt, đặc biệt cho chữ và văn bản”, ông nhớ lại.
Einstein năm 15 tuổi Tự học là chìa khóa con đường khoa học của Einstein, xuất phát từ tinh thần độc lập của ông. Einstein có một cá tính nổi bật là không thích mọi sự gò bó, ép buộc; ông không thích kỷ luật nghiêm ngặt và cách học thuộc lòng trong nhà trường. Phổ lại là một nước có truyền thống quân sự và kỷ luật chặt chẽ nổi tiếng từ trường học đến đường phố. Ông cũng ý thức sớm sự vô nghĩa của những gì người đời săn đuổi với sự tàn bạo. “Không có hoạt động nghiên cứu cái khách quan, cái mãi mãi không bao giờ đạt tới trong lĩnh vực nghệ thuật và nghiên cứu khoa học thì cuộc đời đối với tôi trống rỗng. Những mục đích tầm thường của sự phấn đấu của con người như chạy theo vật chất, thành công bề ngoài và sự xa xỉ đối với tôi từ những năm TS là đáng khinh” – Einstein kể.
Hai sự kiện gây ấn tượng mạnh và có ảnh hưởng lâu dài đối với cậu bé Einstein. Đó là năm cậu lên 4 hay 5 tuổi, khi được bố đưa cho một cái la bàn với cây kim của nó vẫn không đổi hướng mặc cho vị trí la bàn thay đổi thế nào. Einstein như chạm vào sự huyền bí của tạo hóa và có ấn tượng mãnh liệt. Năm lên 12, thêm một sự kiện quan trọng nữa xảy ra. Đó là khi Einstein nhận được quyển sách nhỏ về hình học Euclide từ Max Talmud. Cậu bé lại bị ấn tượng rất mạnh về tính chính xác, mạch lạc và rõ ràng của những định lý hình học được chứng minh theo cách suy diễn logic từ một ít tiền đề và định nghĩa. Nó giống như một kim tự tháp với đầu trên là một ít tiên đề (axiom) và phần còn lại là những hệ quả suy diễn từ chúng. Einstein nhìn nó như một loại kỳ quan của trí tuệ con người. Einstein lúc ở Aarau để học dự bị thi lại đại học Tìm con đường cho riêng mình.

Einstein sinh ra trong thập kỷ sau sự thống nhất đế chế Đức (1871), quốc gia trên đường trở thành cường quốc hàng đầu về công nghiệp ở châu Âu, và ông mất đúng một thập kỷ sau khi đế chế này bị giải thể (1945). Nước Đức cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 phát triển thành một người khổng lồ trong lòng châu Âu. Từ 1820-1920 đã có 9.000 sinh viên Mỹ ghi danh học. Trong khi nước Đức là một miền đất hứa thì Einstein lại bỏ nó ra đi lúc 15 tuổi và chỉ vài năm sau ông xin bố mẹ cho ông ra khỏi quốc tịch Đức để trở thành công dân Thụy Sĩ! Ông muốn chấm dứt quan hệ với nước Đức, không thích cách giáo dục gia trưởng của các thầy giáo, và có lẽ quan trọng hơn, không muốn đi quân dịch trong quân đội Phổ. Ông ra đi để tìm con đường cho riêng mình. Rồi năm 1914, chỉ vài tuần trước khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, ông trở lại nước Đức trong sự vinh quang của tên tuổi khoa học, theo lời mời gọi của Viện hàn lâm Phổ. Viện hàn lâm đã quyết tâm mời ông về ở tuổi 35, cho ông hưởng sự ưu đãi cao nhất có thể có được của nhà nước Phổ.

Einstein bản tính là một người “nổi loạn”, không chịu khép mình vào những trật tự cố định. Ông sinh ra là để làm người tự do và chấp nhận mọi sự trả giá để được sống và tư duy tự do. Einstein không phải là sản phẩm của các lò đào tạo học trò xuất sắc, trường chuyên, của chế độ đào tạo bằng nhồi nhét, hay của bộ máy hàn lâm kiêu hãnh, lại càng không phải là thần đồng. Ông đứng ngoài tất cả những thứ đó, là sản phẩm của tự học và óc tò mò vô hạn trước thiên nhiên. Ông đã để tư duy của mình bay bổng với đôi cánh mộng tưởng trong bầu trời tự do vô hạn của tạo hóa. Ông cho rằng không nên lấy hoạt động khoa học để làm phương tiện kiếm sống, để giữ cho mình được tự do. Đó cũng chính là con đường ông chọn sắp tới để bước vào đời.

Thăm thầy, nhưng thầy đã quên

Einstein có một người thầy khả kính ở Trường trung học Munich là tiến sĩ Ferdinand Ruess. Nếu phải ở lại thêm một giờ để nghe tiếp thầy giảng thì Einstein cũng vẫn hài lòng. Lúc Einstein làm giáo sư ở Zrich, một lần có dịp trở lại Munich, nhớ thầy cũ đến thăm và nghĩ rằng chắc thầy sẽ mừng lắm khi gặp lại trò, nhất là khi trò nay là giáo sư đại học. Nhưng thầy Ruess hoàn toàn không còn nhớ Einstein. Có lẽ vì cậu bé Einstein khi xưa chẳng để lại ấn tượng gì ở thầy. Hơn nữa, khi thấy Einstein ăn mặc lôi thôi, như thói quen của Einstein, người thầy đâm ra nghi ngờ thanh niên kia giả vờ làm cựu học sinh để mượn tiền. Einstein đành tiu nghỉu ra về.

Ở Đức cậu bị chê bai. Hiệu trưởng Trường trung học Gymnasium Luitpold Munich một ngày nọ đã kêu cậu đến và nói: “Einstein, cậu sẽ chẳng làm nên chuyện gì đâu” và bồi thêm để đuổi cậu khỏi trường: “Sự hiện diện của cậu đã làm mất đi sự tôn kính trong lớp học”. Có lẽ do thái độ không ưa thích kỷ luật của cậu. Einstein không phải học tồi như huyền thoại lưu truyền. Einstein chấp nhận lời xua đuổi ấy, như chấp nhận sự thách thức của vua Phổ: “Ai không vừa ý, kẻ đó nên rũ sạch đất Đức dưới chân mình và hãy ra đi”. Bỏ trường ngang ở tuổi 15, một hành động táo bạo, như của một “kẻ bụi đời”, mong để thoát khỏi không khí gia trưởng. Ông đi về Milan sống với gia đình một thời gian rồi sau đó qua Thụy Sĩ. Đó là lần “di cư chính trị” đầu tiên ra khỏi nước Đức.
Ông tận hưởng những ngày tự do và bắt đầu tự nghiên cứu khoa học ở Milan. Ông rời trường học nhưng không rời khoa học. Mục tiêu của ông là vào học Trường đại học kỹ thuật ETH Zrich. Trường này là trường ngoài nước Đức ra tốt nhất ở châu Âu (và hiện nay vẫn là trường tên tuổi thế giới) và không đòi hỏi bằng tú tài mà chỉ yêu cầu phải thi một kỳ khảo sát. Ông bắt đầu một cuộc sống tự lập và tự hoạch định tương lai cho mình. Thi rớt vào ĐH ETH Zrich, ông phải lui về Aarau, một thị trấn nhỏ gần Zrich, để học một năm dự bị và sau đó ra trường Aarau với điểm thủ khoa.

Khi tốt nghiệp cử nhân năm 1900, Einstein rất kỳ vọng vào một chân giảng nghiệm viên ở Đại học ETH Zrich để tiếp tục việc nghiên cứu khoa học. Trong khi những sinh viên tốt nghiệp khác đều được bổ nhiệm việc làm trong đại học, Einstein phải đi ra với “tay trắng” vì không giáo sư nào có thiện cảm với con người “lười biếng” này để cho một chức giảng nghiệm viên cả. Ông xin việc ở Đức và Hà Lan nhưng cũng không thành. Thất nghiệp, Einstein phải đi kèm trẻ để sống qua ngày. Giữa năm 1901, một cái phao cứu hộ đã đến với ông. Do sự giới thiệu của gia đình một người bạn thân, Einstein được nhận vào làm “chuyên viên hạng ba” của Sở Bản quyền sáng chế liên bang Thụy Sĩ. Ông chỉ được làm thử việc, kéo dài cho đến năm 1904 mới được làm chính thức, và năm 1906 mới được lên hạng cấp hai. Einstein đã bị đẩy ra ngoài bộ máy hàn lâm và đã có ý nghĩ bỏ giấc mơ hàn lâm đã ấp ủ của ông. Đó là hệ quả và cái giá phải trả của tính độc lập của con đường ông đang đi. Ông chẳng phải lười biếng như các thầy đã gán, mà chỉ làm một điều: theo đuổi những ý tưởng độc lập của mình, ông chỉ đi vào đại học để nghe những gì ông thật sự thấy bổ ích. Ông làm theo điều đã được đề cao như một trong những nguyên tắc của nền đại học Đức trăm năm qua: tự do học.

Đó là thời kỳ mà con người đang đứng trước một thế giới mới chưa biết và chưa hình dung được những chân trời mới của nó sẽ mở ra. Song chuyên viên hạng ba Einstein đã đặt nền móng cho cả hai cuộc cách mạng: “Thuyết tương đối” và “Thuyết lượng tử”.

Albert Einstein : Lật đổ trật tự cũ

Thời gian làm “chuyên viên hạng ba” tại Sở Bản quyền sáng chế liên bang Thụy Sĩ ở Bern chính là thời gian Albert Einstein ấp ủ trí tuệ để chinh phục đỉnh cao ngọn núi Olympe của trí tuệ.

Ông nghiên cứu khoa học những lúc ngoài giờ, hoặc lén lút trong văn phòng, khi thu xếp công việc của sở xong sớm ông mở bài ra làm, thấy ai đi tới thì nhanh tay giấu bài vào hộc tủ. Ông tự nghiên cứu, tìm tòi, không ai hướng dẫn ông ngoài óc tò mò. Ở nhà, ông một tay dỗ con ngủ, một tay làm toán. Ông lập gia đình với Mileva năm 1903 và có con trai đầu Hans Albert năm 1904.

Hừng đông của một thời đại mới

Năm 1905 đến với Einstein, lúc đó 26 tuổi, như “năm thần kỳ” trong lịch sử khoa học. Tạp chí Niên Giám Vật Lý nổi tiếng của Đức năm đó nhận được năm bài báo của Einstein liên tiếp chỉ cách nhau vài tháng. Một sự phát triển bùng nổ của sức sáng tạo ở Einstein sau bốn năm “ẩn dật” tại sở sáng chế. Đó là năm bài báo được đánh giá có sức mạnh thay đổi thế giới!

Chúng nhắm vào ba chủ đề:

1. Bản chất của chuyển động Brown trong chất lỏng, bằng cách sử dụng xác suất như một phương pháp nghiên cứu mới trong vật lý, góp phần đặt cơ sở cho ngành cơ học thống kê, và giải thích được sự hiện hữu của nguyên tử, lúc bấy giờ vẫn còn bị nghi ngờ rộng rãi;

2. Giả thuyết “lượng tử ánh sáng”, rằng ánh sáng được cấu tạo bằng hạt được gọi là photon với những “gói năng lượng lượng tử” rời rạc, chỉ được phát ra hay hấp thu trọn gói; một trong những áp dụng của giả thuyết lượng tử ánh sáng là giải thích được hiện tượng quang điện khó hiểu lúc bấy giờ (năm 1921 ông được giải Nobel về công trình này);

3. “Về điện động lực học các vật thể chuyển động”, tức thuyết tương đối hẹp (special relativity theory).

Năm bài báo nhanh chóng trở thành động lực và nguồn cảm hứng cho giới khoa học. Chúng gây ra hai cuộc cách mạng lớn của thế kỷ 20 về thế giới quan. Cuộc cách mạng thứ nhất đã thay đổi hẳn quan niệm về thời gian và không gian, đó là thuyết tương đối hẹp. Mười năm nữa, năm 1915, ông hoàn tất thuyết tương đối rộng (general relativity), theo đó không gian và thời gian sẽ kết hợp thành một không gian bốn chiều. Cuộc cách mạng thứ nhất được gọi là “thuyết tương đối”, còn cuộc cách mạng thứ hai là “thuyết lượng tử”.
Tranh của Sidney Harris
Với thuyết tương đối hẹp, Einstein đã thay đổi có tính chất lật đổ các khái niệm về thời gian, không gian và năng lượng, tức là thay đổi cả “tòa nhà” cơ học cổ điển Newton, vì mọi độ đo khác đều có thể qui về ba đại lượng này. Một vài tháng sau khi bài báo thuyết tương đối được công bố, ông đi đến một khám phá mới đặc biệt quan trọng: khối lượng và năng lượng chỉ là một.

Ông viết cho một người bạn cảm tưởng của mình sau khi đi đến kết luận mới này: “Không biết Thượng đế có cười nhạo và đùa bỡn với tôi chăng, tôi không thể biết”.

Thượng đế không đùa bỡn với Einstein. Ông đã nhìn thấy bí mật của Thượng đế. Đó là công thức nổi tiếng E=mc2 (năng lượng bằng khối lượng nhân với bình phương vận tốc ánh sáng). Với thuyết tương đối rộng, còn gọi là thuyết trường hấp dẫn, Einstein cũng đã “cướp” luôn ảo vọng cuối cùng của con người: không – thời gian chúng ta sống, diễn tả thế giới thực tại, không phải Euclide mà là phi Euclide! Tổng số ba góc của một tam giác không còn là hai góc vuông. Không gian một lần nữa không tuyệt đối hay bất biến như Newton giả thuyết mà tùy thuộc vào sự phân bổ vật chất trong đó.

Với thuyết tương đối, Einstein đã giải phóng con người ra khỏi sự huyền bí và huyền thoại của không gian, thời gian, của hấp lực, và của quan hệ giữa năng lượng và khối lượng. Từ mốc thời gian 1905, khoa học đang đứng trước một bình minh mới rạng rỡ hơn bao giờ hết. Vật lý đang làm cuộc khai sáng cho nhân loại. Galileo và Newton bây giờ đã có người nối nghiệp.

Trở thành con người của thế giới

Tháng 5-1909, khi Einstein nộp đơn xin thôi việc ở sở sáng chế và khi được người ta hỏi tại sao ông lại muốn nghỉ việc trong khi ông được đánh giá cao ở sở, ông trả lời là để nhậm chức giáo sư tại Đại học Zurich, thì liền bị chế nhạo: “Làm sao có chuyện đó, ông Einstein, tôi không tin ông đâu. Đó chỉ là chuyện tiếu lâm thôi!”. Thiên hạ quả “đùa dai” với chàng thanh niên có đôi mắt xa xăm như những vì sao này, cho rằng anh ta sẽ không bao giờ làm nên chuyện lớn. Người ta vẫn chưa biết rằng “con vịt xấu xí” của ngày nào sắp sửa chuyển mình thành thiên nga bay khỏi cái nôi đã chật chội, chưa ai xung quanh biết rằng ông từ chỗ vô danh sắp trở thành con người của thế giới.

Trong khoảng thời gian 1909-1914, Einstein làm giáo sư tại Đại học Zurich, một thời gian ngắn tại đại học Đức ở Prague, sau đó trở về Đại học ETH Zurich, nơi trước đây ông thi rớt ở kỳ thi nhập học và sau đó lại thất bại trong việc tìm một chân giảng nghiệm viên. Đầu năm 1914, ông chấp nhận lời mời của Viện Hàn lâm Phổ để về Berlin. Năm đó ông mới 35 tuổi, thành viên trẻ nhất của Viện Hàn lâm Phổ. Các ưu đãi ngoài sức tưởng tượng là những chính sách đặc biệt ngoại hạng chỉ dành cho Einstein. Nhưng không phải chỉ vì tài năng khoa học của Einstein. Phổ muốn rằng cả thế giới vật lý và khoa học nhìn sự hiện diện của Einstein tại Berlin như một tín hiệu của sự ưu việt Phổ trong khoa học.
Charlie Chaplin (trái) nói với Einstein: “Dân chúng hoan hô tôi vì mọi người hiểu tôi, còn họ hoan hô ông bởi vì không ai hiểu ông”.
Năm 1914, lúc ông vừa dọn về Berlin được vài tháng thì Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Những gì ông đã ngờ về nước Đức lâu nay, lý do đã khiến ông bỏ ra đi năm 15 tuổi, bây giờ biến thành sự thật khủng khiếp.

Chống lại cuộc chiến tranh của Phổ là một hành động quả cảm phi thường của một nhà khoa học khi chính ông là người được Viện Hàn lâm Phổ hậu đãi hiếm thấy trong lịch sử. Cuối năm 1914, ông gia nhập “Hội Tổ quốc mới” mà mục tiêu là sự thành lập một “Hiệp chủng quốc châu Âu”.

Ông bị cuốn vào chính trị từ đó và phải chia quĩ thời gian của ông “giữa phương trình và chính trị” như ông nói. Einstein là một trong rất ít nhà khoa học dám lẻ loi đứng chống lại một trận cuồng phong của chiến tranh. Ông liên kết với các nhân sĩ thời đó để chống lại chủ nghĩa quân sự, chủ nghĩa quốc gia, đấu tranh cho hòa bình và dân chủ. Ông là con người khoa học hiếm thấy có ý thức chính trị, và có những phán đoán chính trị sắc bén và chính xác, có dũng cảm công dân, hoàn toàn không chạy theo đám đông. Sau khi Hilter lên nắm quyền đầu năm 1933, ông là người công khai tố cáo chế độ quốc xã từ nước ngoài.

Trong thời gian ở Berlin, ông tiếp tục nghiên cứu lý thuyết tương đối mở rộng ứng dụng vào hấp lực của Newton. Năm 1915, ông hoàn thành công trình đồ sộ này, năm 1916 được công bố trên tạp chí Niên Giám Vật Lý. Đó là công trình vất vả nhất và sâu sắc nhất của Einstein, “một thành tựu lớn nhất của tư duy con người về tự nhiên, sự kết hợp của chiều sâu triết học, trực giác vật lý và nghệ thuật toán học một cách ngạc nhiên” như Max Born sau này bình luận.

Tháng 8-1917, ông báo cáo trước Viện Hàn lâm Phổ công trình quan trọng tiếp theo về vũ trụ học. Đó là công trình thế kỷ cho ngành thiên văn học hiện đại, được xây dựng trên thuyết tương đối rộng. Các phương trình từ thuyết tương đối rộng đã châm ngòi một giai đoạn phát triển vũ bão mới cho ngành thiên văn và thay đổi hiểu biết con người về số phận của vũ trụ một cách triệt để và thú vị nhất.

Đây mới chỉ là khúc dạo đầu của một giai đoạn phát triển bão táp của ngành thiên văn theo thuyết tương đối trong những năm sáu mươi, sau khi thuyết tương đối rộng như nàng tiên ngủ yên đi ba thập niên, vì kỹ thuật chưa có điều kiện để kiểm chứng. Bốn ngày trước khi công bố bài nghiên cứu về vũ trụ học, Einstein viết cho một người bạn: “Tôi cũng lại phạm tội về một cái gì trong lý thuyết hấp lực với thuyết tương đối rộng, và có một ít nguy cơ bị cho vào nhà thương điên”.

Einstein trả lời người bạn của gia đình khi ông này hỏi về sự thông minh: “Tôi không thông minh hơn người thường nào. Tôi đơn giản chỉ tò mò hơn một người trung bình, và tôi không bỏ cuộc trước một vấn đề cho đến khi tôi tìm được giải đáp. Ông có thể xem tôi là kiên nhẫn hơn những người trung bình trong việc theo đuổi các bài toán. Không phải thông minh hơn là quan trọng mà là tò mò hơn và có lẽ kiên nhẫn hơn trong vấn đề tìm giải đáp cho một bài toán. Tôi không có một sức mạnh tư duy đặc biệt mạnh (“cơ bắp não”) nào, dù chỉ trong mức độ khiêm tốn. Nhiều người có thứ đó nhiều hơn nhiều mà không mang lại một cái gì đáng để ngạc nhiên”

Einstein trở thành một vì sao mới, đoạt giải Nobel, đi diễn thuyết khắp nơi với sứ mạng hòa bình. Nhưng một lần nữa, ông lại phải rời quê hương.

Giã từ nước Đức

Năm 1933, khi Einstein ghé thăm Anh, báo chí Anh đã đón mừng con người có sức thu hút quần chúng này như một biểu tượng. Trong khi năm 1633 tại lục địa, Galileo bị đưa ra trước tòa án dị giáo của nhà thờ vì những kết quả nghiên cứu khoa học của ông không phù hợp với lời dạy của nhà thờ, và đến cuối thế kỷ 17 ở châu Âu vẫn còn các phiên toà xử “phù thủy”, thì nước Anh có được một không khí tự do phóng khoáng cho những ý tưởng mới. Newton năm 1687 có thể phổ biến những khám phá của mình trong tác phẩm Principia mà không phải lo lắng. Đúng 300 năm sau ngày Galileo bị xử, nước Anh biểu lộ sự ngưỡng mộ cao độ cho một thiên tài thời đại, họ biết vượt qua mọi biên giới của lịch sử, địa lý, của tình cảm thù hằn dân tộc để xem thiên tài ấy như người con yêu quí của chính nước Anh vậy.

Thế nhưng, sự nổi tiếng của Einstein và thuyết tương đối kéo theo một cái bóng lớn đáng sợ của sự chống đối đủ mọi màu sắc. Các tiếng nói thù địch chống ông bắt đầu cất lên. Người ta chống ông vì không hiểu thuyết tương đối, vì vẫn còn bám vào các quan niệm khoa học cũ, vì ganh tị, tị hiềm, vì ông là người gốc Do Thái, hoặc vì tính chất chính trị, ông là người theo chủ nghĩa hòa bình. Giới cầm quyền Đức cho rằng những người theo chủ nghĩa hòa bình chính là con dao đã đâm vào lưng nước Đức khiến Đức thua trận trong Thế chiến thứ nhất.
Nhưng những sự chống báng nghiêm trọng nhất đến từ những ý đồ chính trị, chủng tộc và ý thức hệ tại Đức. Những nhà khoa học đầu đàn đều biết rõ giá trị của Einstein. Nhưng đối với không ít người, sự thành công của Einstein là một thách đố, một cái gai trước mắt họ. Trong khi bầu trời khoa học của nhân loại được khai sáng thì bầu trời hòa bình của nhân loại bị tối dần. Đầu năm 1920, “mây mù” kéo lên thành phố Berlin và nước Đức. Lực lượng phát xít bắt đầu bài xích công khai Einstein một cách có tổ chức. Ngày 24-6, ngoại trưởng Đức Walther Rathenau, một người Đức gốc Do Thái và là bạn thân của Einstein, bị lực lượng cực hữu ám sát, báo trước cho Einstein nguy cơ có thể sắp đến với ông. Ông bỏ đi chu du thế giới một thời gian dài.

Einstein đã sớm được đề cử cho giải Nobel vật lý từ năm 1910, lúc ông 31 tuổi, chỉ năm năm sau “năm thần kỳ”. Thế nhưng mãi đến năm 1921, Ủy ban Nobel mới tuyên bố công nhận giải Nobel cho Einstein. Trớ trêu thay, trước áp lực của dư luận chống đối, Ủy ban giải Nobel ở Oslo chỉ dám phát giải cho Einstein về công trình hiệu ứng quang điện chứ không phải về thuyết tương đối. Giải Nobel cho Einstein làm dịu dư luận phần nào, vì cuối cùng Einstein cũng được giải. Người ta kể rằng khi được hỏi, Einstein đã phát biểu cảm tưởng của mình như sau: “Tôi rất vui mừng vì nhiều lý do, trong đó có lý do vì người ta không còn đặt câu hỏi trách móc cho tôi nữa: Tại sao ông không được giải Nobel?”.

Trước tình hình chủ nghĩa bài Do Thái ngày càng dâng cao, mối nguy cơ của chủ nghĩa phát xít, của một cuộc chiến tranh thế giới mới ngày càng lớn, ông tích cực đấu tranh cho hòa bình. Năm 1926, ông cùng ký tên với Gandhi, Tagore, Barbusse và một số nhân sĩ khác vào một tuyên ngôn chống chiến tranh. Những ngày còn lại của Einstein trên nước Đức chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay.

Chấm dứt “thời đại vàng son” của khoa học Đức
Einstein đọc bài diễn văn tại Anh
Ngày 30-1-1933, Hitler lên nắm quyền, xóa bỏ mọi quyền tự do công dân. May mắn cho Einstein là lúc đó ông và vợ đang còn ở Mỹ. Ngày 16-2, tòa nhà Quốc hội Đức bị cháy. Hitler lấy cớ liền ra tay đàn áp các lực lượng cánh tả và trí thức.

Einstein cùng với một loạt nghệ sĩ và văn sĩ bị báo chí Đức quốc xã tấn công dữ dội. Đầu tháng ba, trước khi xuống tàu từ Mỹ về châu Âu, ông công bố quyết định không trở lại nước Đức nữa.

Ông kêu gọi thế giới văn minh hãy can thiệp bằng dư luận chống lại sự đàn áp của Hitler. Ngày ông xuống tàu cũng là ngày báo chí đưa tin nhà nghỉ mát của ông ở Caputh (Berlin) bị khám xét và tài sản bị tịch thu. Con đường mang tên Einstein ở thành phố Ulm bị đổi tên thành đường Fichte, một nhà triết học quốc gia chủ nghĩa của Đức.

Tháng mười, trong một cuộc phỏng vấn ông đã nói: “Tôi không thể hiểu được sự thụ động mà cả thế giới văn minh phản ứng trước cái dã man hiện đại. Thế giới không thấy Hitler đang nhắm đến chiến tranh hay sao?”.

Vừa đến Antwerpen, ông đã trả lại hộ chiếu và quốc tịch Đức cho cơ quan đại diện Đức. Trước đó, ngày 28-3, ông đã gửi quyết định từ chức đến Viện Hàn lâm Phổ. Đức quốc xã tức tối vì Einstein đã ra tay trước, họ đã âm mưu sẽ loại Einstein ra khỏi viện hàn lâm chính thức.

Ngày 10-5-1933 tại Berlin, 20.000 quyển sách bị đốt, trong đó có sách của Albert Einstein. Đốt sách diễn ra đồng loạt tại 16 đại học khác. Ông ở lại Bỉ và Anh đến tháng mười, để sau đó cùng với vợ quay về Mỹ định cư tại Princeton. Ông cảm thấy trước thảm họa của “đế chế thứ ba” của Đức quốc xã và linh cảm: “Tôi chắc sẽ không bao giờ thấy lại đất nước sinh ra tôi nữa”.

Sự ra đi của Einstein đồng nghĩa với việc nền khoa học của Đức mất đi người lãnh đạo tinh thần, lá cờ biểu tượng cho khoa học. Hơn 1.600 giáo sư và cán bộ giảng dạy bị mất chức. Một cuộc di tản khổng lồ diễn ra, một cuộc chảy máu chất xám khủng khiếp trong lịch sử khoa học Đức.

Hitler cho truy lùng lý lịch của tất cả các nhà khoa học xem có “thuần chủng” hay không. “Thời đại vàng son” trong khoa học của Đức bị chấm dứt một cách tàn bạo. Gưttingen là đại học hứng chịu những hậu quả nặng nề nhất. Nhiều giáo sư hàng đầu phải ra đi. Không còn ai để giảng bài cho sinh viên trong khoa toán nữa.

Trước khi rời châu Âu để về Mỹ, Einstein ghé lại thăm Anh bốn tuần. Đêm 3-10-1933, hơn một vạn người, trong đó có rất nhiều người tị nạn chính trị từ Đức, đã chen nhau tại tòa nhà hình cung khổng lồ Royal Albert Hall cạnh Hyde Park ở London để nghe Einstein nói chuyện.

Buổi nói chuyện nhằm mục đích lạc quyên cho những nhà khoa học tị nạn Đức quốc xã. Một lực lượng cảnh sát đông bất thường được bố trí tại các con đường dẫn vào địa điểm vì có tin sẽ có âm mưu sát hại Einstein.

Trong phòng lễ, thêm 1.000 sinh viên được bố trí để ngăn chặn ngay mọi sự khiêu khích nếu có. Trên bàn chủ tọa có những người con nổi tiếng nhất của nước Anh trong khoa học. Einstein phát biểu lần đầu tiên bằng tiếng Anh, với giọng Đức của mình, nói một cách tha thiết và cảm động: “Chính trong giai đoạn thiếu thốn kinh tế như chúng ta chứng kiến hiện nay khắp nơi, người ta mới thấy rõ các sức sống của đạo đức – những cái sinh động trong một dân tộc – mạnh mẽ và hiệu quả như thế nào”.

Bài diễn văn của Einstein tại Royal Albert Hall là bài phát biểu chia tay với châu Âu. Ông, vợ Elsa, thư ký Helen Dukas và trợ lý Walther Mayer lên tàu, rời bỏ lục địa châu Âu. Paul Langevin, người bạn thân của Einstein tại Pháp, bình luận: “Giáo hoàng của vật lý” đã chuyển ghế của mình sang Tân thế giới. Princeton là nơi dừng chân cuối cùng trong cuộc đời không tổ quốc của ông. Einstein sống tất cả 19 năm tại Đức (kể từ thời gian về Berlin) và 22 năm còn lại tại Princeton.

Từ Princeton, Einstein tiếp tục với những phát minh chấn động. Einstein cũng không ngừng dấn thân đấu tranh cho hòa bình thế giới. Oái oăm xảy ra sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật. Một lần nữa, Einstein làm một cuộc “di tản nội tâm” ngay trên nước Mỹ.

Giấc mơ “hòa bình vĩnh cửu”

Giai đoạn 30 năm cuối cùng của Einstein ở Princeton (Mỹ) là giai đoạn ông truy lùng thuyết trường thống nhất chung cho hấp lực (thuyết tương đối rộng) và sóng điện từ kể từ lúc ông công bố những kết quả đầu tiên về thuyết trường thống nhất năm 1925 cho hấp lực và điện, nhưng chưa đạt ý định.

Ông hi vọng qua đó đem lại lời giải cuối cùng cho cơ học lượng tử (do những nhà vật lý học trẻ như Bohr, Heisenberg, Born… phát triển những năm 1926 – 1927) mà ông xem là chưa hoàn chỉnh. Theo ông, “việc đi tìm chân lý vẫn thú vị hơn là sở hữu chắc chắn về nó”.
Einstein những năm ở Princeton Cả thế giới khoa học đổ xô về con tàu lượng tử đang chuyển bánh ngày càng nhanh. Chỉ có Einstein là người đứng lại và không ngừng nêu lên tính không hoàn thiện của cơ học lượng tử. Sau một phần tư thế kỷ, với những nỗ lực phi thường, vượt qua bao rào cản của định kiến khoa học, với cơ học lượng tử con người đặt chân đến vùng đất mới, bắt đầu hiểu được một loạt tính chất của thế giới vi mô mà trước đây người ta không thể nào hiểu được với cơ học cổ điển. Đó là cuộc cách mạng lượng tử thứ nhất.
Vài thập niên sau, cuộc cách mạng này gây ra cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất, tác động sâu sắc đến bộ mặt xã hội, kinh tế thế giới. Transitor được phát minh năm 1948, có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người và cho ra đời kỷ nguyên thông tin. Phát minh quan trọng thứ hai là tia laser vào những năm cuối của thập niên 1960.

Ứng dụng quan trọng nhất của laser có lẽ là trong ngành viễn thông. Nó đẩy lưu lượng thông tin có thể chuyển tải được trong một sợi quang học duy nhất lên đến terabit, nghĩa là hàng triệu của triệu bit thông tin đi xuyên qua đại dương. Một ứng dụng khác là đồng hồ “nguyên tử lạnh” có thể nâng độ chính xác lên một giây trong 30 triệu năm (đồng hồ casium có độ chính xác 1 giây trong 10 triệu năm)…
Einstein trong cuộc phỏng vấn tháng 2-1950 chống lại quyết định của chính quyền Mỹ tiếp tục chế tạo bom hydro Năm 1935, sự phê phán cơ học lượng tử của Einstein đạt đến cao điểm được thể hiện trong bài báo cùng với hai đồng nghiệp trẻ là Boris Podolsky và Nathan Rosen, mang tên “Sự mô tả thực tế vật lý bằng cơ học lượng tử có thể xem là đầy đủ?”. Công trình này, thường được gọi tắt là “Nghịch lý EPR” (tên viết tắt của ba tác giả), nhằm chứng minh rằng sự mô tả vật lý bằng cơ học lượng tử là không đầy đủ.
Nhưng rồi công trình EPR đã bị giới vật lý quên lãng, nó chỉ được xem như một thí nghiệm ý tưởng nhân tạo của Einstein để phản biện cơ học lượng tử. Vật lý lượng tử như chấm dứt một cách trọn vẹn ở đây. Ba mươi năm sau (1964), tức chín năm sau khi Einstein mất, John Bell là người tiếp tục công việc và buộc thiên nhiên phải “lè lưỡi” ra cho xem một phần bí mật tinh tế của nó.

Từ nghịch lý, EPR đã trở thành hiệu ứng. Chính ở hiệu ứng này người ta mới bắt đầu hiểu thuyết lượng tử ở chiều sâu của nó. Nó cho thấy cái thiên tính nhạy bén của Einstein trong việc định dạng những vấn đề cơ bản. Hiệu ứng EPR cùng với định lý Bell gây ra cuộc cách mạng thứ hai của cơ học lượng tử trên thế giới. Cũng giống như cuộc cách mạng thứ nhất, nó đã và đang gây ra một cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai cho thế kỷ 21.

Einstein đi xuống trong bộ đồ ngủ như thường lệ để ăn sáng, nhưng hầu như không đụng đến cái gì cả. “Em yêu – ông nói – anh có một ý tưởng tuyệt vời”. Sau khi uống cà phê, ông đi đến cây đàn piano và bắt đầu chơi. Thỉnh thoảng ông lại ngừng và ghi chép, rồi lặp lại: “Anh có một ý tưởng tuyệt vời!”. Tôi nói: “Vậy thì hãy kể cho em nghe đi, đừng để em sốt ruột”. Ông nói: “Khó lắm, anh phải triển khai nó cái đã”.

Ông vẫn tiếp tục đánh piano và ghi chép khoảng nửa giờ, sau đó đi lên lầu vào phòng làm việc, nói với tôi rằng ông không muốn bị quấy rầy và ở đó hai tuần liền. Mỗi ngày tôi dọn thức ăn lên cho ông và buổi tối ông đi dạo để tập thể dục, sau đó trở lên phòng làm việc tiếp. Sau cùng, ông ấy xuống khỏi phòng làm việc, mặt rất tái. “Đây là kết quả”, ông ấy nói, mệt mỏi đặt hai trang giấy trên bàn. Và đó là thuyết tương đối của ông.

Lời kể của Elsa Einstein (người vợ thứ hai của Einstein), được Charlie Chaplin ghi lại trong nhật ký

Máy tính lượng tử của thế kỷ 21 sẽ xử lý thông tin nhanh chưa từng thấy. Tính chất buộc chéo EPR sẽ có thể khởi động cùng một lúc hàng ngàn các phép tính khác nhau. Nguyên tắc hoạt động của máy tính lượng tử trong tương lai sẽ hoàn toàn khác. Cuộc chạy đua trong những lĩnh vực này đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới.
Einstein nói với thư ký Helen Dukas của mình rằng có lẽ 100 năm sau các nhà vật lý mới hiểu những gì ông làm. Nhưng mới 50 năm sau, sự quan tâm về trường thống nhất đã sống dậy mạnh mẽ.

“Di tản nội tâm”

Từ Princeton, Einstein cũng không ngừng dấn thân đấu tranh cho hòa bình thế giới. Năm 1938, nhà vật lý học người Đức OTS Hahn phát hiện các nguyên tử có thể bị tách ra thành những hạt con, sự phân hạch đó có thể phát ra một năng lượng, sức mạnh khủng khiếp của năng lượng có thể tính bằng công thức E=mc2. Tin này lọt qua Mỹ, những nhà khoa học Mỹ quan ngại Đức có thể chế tạo bom nguyên tử trước.

Ngày 2-8-1939, Einstein gửi một lá thư đến Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt khuyến cáo trước nguy cơ Đức có thể có một chương trình sản xuất bom nguyên tử và đề nghị chính quyền Mỹ nên xem xét một kế hoạch nghiên cứu như thế. Đề án Manhattan hình thành với kinh phí 2 tỉ USD và 130.000 người tham gia.

Ông nói: “Tôi ý thức nguy cơ khủng khiếp cho nhân loại về sự thành công của công việc này (nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử). Nhưng khả năng người Đức cũng cùng làm việc này với triển vọng thành công đã buộc tôi đi đến việc làm này. Giết chóc trong chiến tranh theo quan điểm của tôi không khác gì giết chóc bình thường”. Sau khi Mỹ ném hai trái bom nguyên tử xuống Nhật tháng 8-1945, Einstein rất hối hận nói: “Nếu tôi biết được rằng người Đức không sản xuất được bom nguyên tử thì tôi đã không động đến một ngón tay”.

Einstein chống lại chủ nghĩa McCarthy trong những năm 1950, kêu gọi giới trí thức bất phục tùng lệnh triệu tập thẩm vấn của Ủy ban Hạ viện về những hoạt động bị cho là chống Mỹ, một loại tòa án La Mã mới, kể cả nếu phải bị đi tù bằng cách dựa vào quyền tự do ngôn luận bất khả xâm phạm của con người được bảo vệ trong hiến pháp.

Bức thư kêu gọi bất phục tùng được đăng tải trên New York Times ngày 12-6-1953 và gây ra phản ứng bùng nổ trong dư luận. Tất cả những tờ báo lớn trong các lời bình luận của họ đều “từ chối một cách lịch sự” lời kêu gọi của ông. Einstein bị gán cho danh hiệu “gián điệp cộng sản” trong một hồ sơ mật dài 1.427 trang về ông của Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) và “đáng lẽ phải bị trục xuất khỏi nước Mỹ từ lâu”.

Ngày 26-8-1949, Liên Xô thử bom nguyên tử đầu tiên. Cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân qui mô bắt đầu. Nhân loại đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh khốc liệt hơn tất cả những cuộc chiến tranh trong quá khứ. Einstein tiếp tục cuộc chiến đấu mới chống lại sự vũ trang hạt nhân cho sự sống còn của nhân loại. Ông đề nghị thành lập một chính phủ thế giới: hoặc một chính phủ thế giới, hoặc sẽ không còn thế giới nữa. Ý tưởng của ông nối tiếp ý tưởng về một cộng đồng thế giới của các dân tộc có chủ quyền, sống hòa bình, độc lập và tự do trong một thể chế liên bang trong giấc mơ “hòa bình vĩnh cửu” của Immanuel Kant.

Einstein ngày càng cô đơn trong giới khoa học. Năm 1949, ông viết cho người bạn Maurice Solovine của Viện hàn lâm Olympia: “Bạn nghĩ rằng chắc tôi nhìn lại một sự nghiệp cuộc đời với sự thỏa mãn âm thầm. Nhưng thực tế khác hẳn nếu nhìn gần. Tôi vẫn tiếp tục làm khoa học không mệt mỏi, nhưng đã trở thành một người tà giáo khó chịu trong mắt nhiều người. Đó là vì thời trang và tính cận thị. Cái quí nhất còn lại là một vài người bạn hiền, kiên định và hiểu được nhau”.

Những năm cuối đời ở Princeton, Einstein chứng kiến thêm một lần nữa, lần này trên nước Mỹ, những cảnh tượng trước đây đã khiến ông rời bỏ nước Đức ra đi: chủ nghĩa quân sự, cơn sốt vũ trang, chủ nghĩa McCarthy theo dõi và truy bức những người tiến bộ, giới hạn quyền tự do con người. “Tôi đã ngồi 17 năm ở Mỹ mà không tiếp thu được điều gì từ nếp nghĩ của đất nước này và cần giữ mình cho khỏi hời hợt trong tư duy và cảm xúc”. Một lần nữa, ông làm một cuộc “di tản nội tâm” ngay trên nước Mỹ.

“Tôi đã làm xong việc của tôi trên quả đất”. Bí mật cuối cùng Einstein mang theo là những tiếng thều thào bằng tiếng Đức trước lúc lâm chung, cô y tá trực lại không hiểu tiếng Đức. Nhưng không cần 100 năm sau, thế giới đã hiểu Einstein…

Nhà giáo dục nhân bản

Vài giờ trước khi mất, Einstein lặp lại với Margot, con gái của ông: “Tôi đã làm xong việc của tôi trên quả đất”. Bí mật cuối cùng ông mang theo là những tiếng thều thào bằng tiếng Đức trước lúc ông chấm dứt cuộc hành trình để vĩnh viễn trở về với cát bụi. Cô y tá trực không biết một chữ Đức nào. “Những lời nói sau cùng của con người khổng lồ trí thức đã bị mất đi vào thế giới”, đó là hàng chữ to trên tờ New York Times ngày hôm sau. Khi mất, Einstein để lại di chúc yêu cầu đem tro của mình rải vào không gian ở nơi không ai biết.

“Cơn ác mộng” thi cử

Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của mình, Einstein xác định yếu tố giáo dục và suy nghĩ độc lập quyết định con đường đi của mình. Ông nhớ lại: “Khi dọn về Aarau ở Thụy Sĩ năm 1896 và vào trường đại học bách khoa kỹ thuật, lần đầu tiên tôi mới ý thức rằng tôi không thích như thế nào cách nhồi nhét và học thuộc lòng, cách dạy của môn toán. Tôi tin rằng sở thích vật lý của tôi hình thành vào thời điểm này”. Ông nói mục đích của nhà trường là “phải để con người trẻ phát triển trong một tinh thần mà những nguyên tắc này (sự phát triển tự do và tự chịu trách nhiệm của cá nhân) trở thành tự nhiên như không khí người đó thở.

Chỉ có dạy thôi thì không đạt được gì cả”. Về việc học nhồi nhét, Einstein nói: “Tôi nghĩ người ta có thể làm mất đi tính háu ăn của một con thú ăn thịt sống nếu cứ bắt nó phải ăn dưới roi vọt, ngay cả khi nó không đói, đặc biệt khi người ta tự chọn cho nó những thức ăn dưới áp lực đó”.

Chính trong thời gian tại sở sáng chế ở Bern, không bị áp lực và sự lôi cuốn của bộ máy hàn lâm, Einstein mới có đủ sự yên tĩnh và bình tĩnh để phát triển, kiến tạo những ý tưởng mới của ông. Ông kể: “Bởi vì nghề nghiệp hàn lâm đặt một người nghiên cứu trẻ vào một loại tình huống bắt buộc là phải sản xuất các bài nghiên cứu khoa học với số lượng gây ấn tượng – một sự cám dỗ dẫn đến sự hời hợt mà chỉ có những cá tính mạnh mới có khả năng cưỡng lại được”.

Einstein rất ghét việc chạy theo thi cử và thành tích: “Thời còn đi học của tôi, ngay khi ngày thi được công bố, tôi bị dồn vào một áp lực đến nỗi tôi có cảm giác mình không phải bước vào một kỳ thi mà bước lên một đoạn đầu đài. Trí óc của tôi sau những kỳ thi (cử nhân) hoàn toàn bị tắc nghẽn một thời gian cho hoạt động nghiên cứu và phân tích khoa học.

Khả năng trí óc của tôi hoàn toàn bị cạn kiệt bởi phải học thuộc lòng những thông tin vô bổ”. Sau một năm ông mới bắt đầu lại công việc khoa học. Giáng sinh năm 1917, tờ Berliner Tageblatt đăng một bài báo của Einstein, tựa đề “Cơn ác mộng”. Thi cử đối với ông là ác mộng. Ông đã đề nghị xóa bỏ các kỳ thi tú tài, vì nó vô ích và có hại, vì khi thầy cô đã biết rõ học lực của một học sinh trong nhiều năm liền thì không cần thiết phải thi nữa.

Ông cũng không xây dựng một trường phái nào, không muốn áp đặt tư duy cho ai. Ông nói với tư cách là người thầy với trái tim rộng mở: “Tôi không bao giờ dạy học sinh, tôi chỉ cố gắng tạo ra những điều kiện để chúng có thể học”.

 

Trong chuyến đi Mỹ năm 1921, tại Boston, Einstein được đưa cho bảng câu hỏi Edison để trả lời, người ta muốn xem ông trả lời đúng đến đâu như một trắc nghiệm thông minh. Đến câu hỏi về vận tốc âm thanh, ông trả lời: “Điều đó tôi không biết. Tôi không muốn làm nặng nề trí nhớ của tôi với những sự kiện như thế, những thứ mà tôi có thể tìm thấy dễ dàng trong bất cứ từ điển bách khoa nào”.

Ông cũng không đồng ý với quan điểm của Edison cho rằng kiến thức quan trọng hơn giáo dục đại học. Ông trả lời: “Đối với con người, kiến thức không quan trọng lắm. Để có kiến thức con người không cần đến đại học.

Cái đó người ta có thể học từ sách. Giá trị của giáo dục đại học không nằm ở chỗ học thuộc lòng thật nhiều kiến thức mà ở chỗ tập luyện tư duy, cái mà người ta không bao giờ học được từ sách giáo khoa”.

Einstein cho rằng tệ nạn xấu nhất của chủ nghĩa tư bản là “làm què quặt cá nhân”. “Cả hệ thống giáo dục chúng ta đau khổ vì tệ nạn này. Một thái độ cạnh tranh quá đáng được khắc sâu vào sinh viên, anh ta được huấn luyện để tôn thờ sự thành công hám lợi như một sự chuẩn bị cho sự nghiệp tương lai”, Einstein nói. Đạo đức đối với ông là tiêu chuẩn hàng đầu: “Một tính cách tốt và vững vàng có giá trị hơn khả năng hiểu biết và sự uyên bác”. Nền tảng của tất cả mọi giá trị của con người là đạo đức.

Einstein cho rằng mục tiêu (của nhà trường) phải là sự đào tạo nên những cá nhân tự hành động và tư duy nhưng biết nhìn thấy trong việc phục vụ xã hội nhiệm vụ cao cả nhất của cuộc đời. Einstein từng phát biểu: “Tôi tin rằng sự sa sút khủng khiếp trong tư cách đạo đức của con người trước nhất có liên quan đến sự máy móc hóa và sự làm mất đi tính chất cá nhân trong cuộc sống của chúng ta – một sản phẩm phụ bất hạnh của sự phát triển tinh thần khoa học – kỹ thuật. Lỗi của chúng ta”.

Trong quan hệ giữa cộng đồng và cá nhân, Einstein đặt nặng vai trò của cá nhân: “Bởi vì tất cả những gì vĩ đại và cao cả đều được tạo ra bởi cá nhân trong sự phấn đấu tự do”. Chính cá nhân tạo ra tài sản văn hóa cho nhân loại.

Ông nói: “Có thể dễ dàng nhận thấy rằng tất cả những tài sản vật chất, tinh thần và đạo đức mà chúng ta nhận được từ xã hội xuất phát từ những nhân cách đơn lẻ qua vô số thế hệ. Chỉ cá nhân đơn lẻ mới tư duy và qua đó mới tạo ra những giá trị mới cho xã hội”. Einstein chứng kiến trong thế kỷ 20 vô số cá nhân phải chịu số phận nghiệt ngã trước sự khước từ của xã hội, của số đông, của chính quyền đại diện họ.

Chính số đông đã để mình chịu khuất phục dễ dàng trước các quyền lực chính trị, để đẩy nhau vào nỗi bất hạnh, trong khi “một số ít người không tham gia vào cách suy nghĩ thô bạo của số đông, vẫn sống theo lý tưởng tình yêu con người, không bị ảnh hưởng bởi những đam mê của họ thì phải chịu một số phận bi thảm hơn nhiều: họ bị ném ra khỏi xã hội và bị đối xử như những kẻ bị hủi nếu họ không chịu làm những hành động mà lương tâm họ chống lại, và im lặng hèn nhát về những gì họ thấy và cảm nhận”.

Einstein vốn sống cô đơn. Bất cứ ở nơi nào, Thụy Sĩ, Prague, Berlin hay Princeton, ông đều có cảm giác là người xa lạ và ngoài cuộc. Ngoài cái cô đơn do khoa học, Einstein còn nỗi cô đơn riêng của một người không lúc nào thuộc hẳn vào thế giới này. Ông vẫn là người “lữ hành cô đơn” không bến đỗ trên đường đi tìm chân lý của mình, cho dù con đường ông đi sẽ đưa ông về một chân trời vô định và chỉ còn một mình ông trên đó.

Advertisements

Posted on 01/05/2012, in chuyện kể về các nhà vật lý. Bookmark the permalink. Để lại phản hồi.

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: